Đầu tư vào Việt Nam - Ngân hàng và Tài chính
- AGB Team

- 8 thg 10, 2019
- 6 phút đọc
Đã cập nhật: 9 thg 7, 2023

Quản lý vốn
Yêu cầu vốn pháp định tối thiểu
Đối với các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam, quy định về vốn pháp định tối thiểu được áp dụng. Theo đó, mức vốn pháp định tối thiểu đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính lần lượt là 3.000 tỷ đồng, 15 triệu đô la Mỹ, 500 tỷ đồng và 150 tỷ đồng.
Quyền sở hữu nước ngoài
Tổng sở hữu nước ngoài tại một ngân hàng trong nước được giới hạn ở mức 30%. Được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận trong từng trường hợp cụ thể, nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu trên 30%
tổng số cổ phần trong một ngân hàng địa phương.
Tỷ lệ an toàn vốn (CAR)
Hệ số CAR theo hướng dẫn của NHNN bắt buộc phải duy trì ở mức tối thiểu theo quy định là 9%. Phương pháp tính CAR hiện tại dựa trên Basel I một cách lỏng lẻo đối với rủi ro tín dụng và không tính đến các rủi ro khác, chẳng hạn như rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường.
Cuối năm 2016, NHNN đã ban hành quy định mới về hệ số CAR, có hiệu lực từ năm 2020. Theo quy định mới này, hệ số CAR phải được duy trì ở mức tối thiểu 8% và phương pháp tính đã được thay đổi để phù hợp với Basel. II, không chỉ tính đến rủi ro tín dụng mà còn cả rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường. Quy định mới này được coi là một bước tiến về an toàn và hiệu quả trong hoạt động của ngành ngân hàng Việt Nam.
Basel II
Năm 2015, NHNN đã lựa chọn 10 ngân hàng thương mại trong nước để thí điểm áp dụng tiêu chuẩn Basel II từ tháng 2/2016 đến hết năm 2018, nhằm mục tiêu áp dụng tiêu chuẩn Basel II cho tất cả các ngân hàng vào năm 2020. Các ngân hàng thương mại phải duy trì hệ số CAR là tối thiểu 8% từ tháng 1/2020.
Kiểm soát nội bộ và Kiểm toán nội bộ
Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam phải thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ và chức năng kiểm toán nội bộ để tuân thủ các quy định hiện hành của NHNN.
Hàng năm, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải rà soát, đánh giá tính đầy đủ, hiệu lực, hiệu lực và hiệu quả của kiểm soát nội bộ.
Theo đó, báo cáo tự đánh giá kiểm soát nội bộ có cập nhật rủi ro, tóm tắt hoạt động chính, rủi ro liên quan và kiểm tra, kiểm soát ở cấp tổ chức, cấp đơn vị và cấp phòng ban của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải được chuẩn bị. Báo cáo đó phải được gửi cho các bên liên quan chủ chốt của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
Yêu cầu của Kiểm toán viên Độc lập
Báo cáo tài chính hàng năm và hiệu quả hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải được kiểm toán độc lập. Các tổ chức tín dụng cũng được yêu cầu luân chuyển công ty kiểm toán 5 năm một lần.
Trước khi kết thúc năm tài chính, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải lựa chọn công ty kiểm toán độc lập trong Danh sách công ty được phép kiểm toán do NHNN công bố để kiểm toán báo cáo tài chính và hoạt động kiểm soát nội bộ của năm tài chính tiếp theo.
Kiểm soát ngoại hối
Đồng Việt Nam không được tự do chuyển đổi và thị trường vẫn phụ thuộc nhiều vào ngoại tệ, đặc biệt là đô la Mỹ. Chính phủ đã thực hiện các biện pháp để giảm dần sự phụ thuộc vào đồng USD.
Tất cả các giao dịch tiền tệ tại Việt Nam phải được thực hiện bằng Đồng Việt Nam, trừ một số giao dịch được pháp luật cho phép thực hiện bằng ngoại tệ (ví dụ: trả lương cho nhân viên nước ngoài). Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, theo một số Điều kiện nhất định, có thể mua ngoại tệ từ ngân hàng để thực hiện một số nghĩa vụ bằng ngoại tệ từ các giao dịch của mình.
Nhìn chung, dòng ngoại tệ vào Việt Nam ít bị NHNN ràng buộc hơn so với dòng chảy ra vốn bị hạn chế đối với một số giao dịch như thanh toán nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, trả các khoản vay nước ngoài và trả lãi phát sinh từ đó.
Chỉ các ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng và các tổ chức được phép khác mới được cung cấp dịch vụ ngoại hối.
Hệ thống ngân hàng
Hệ thống ngân hàng của Việt Nam được chia thành cơ cấu hai cấp vào năm 1988 khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đảm nhận vai trò quản lý và giám sát đối với lĩnh vực ngân hàng, với các hoạt động thương mại chuyển sang các tổ chức tín dụng.
NHNN vừa là Ngân hàng Trung ương, vừa là Cơ quan của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hoạt động dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Chính phủ, NHNN phải chịu sự chấp thuận của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ đối với các lĩnh vực hoạt động chính.
Kể từ khi chia thành hệ thống hai cấp, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã mở rộng nhanh chóng. Các tổ chức tín dụng của Việt Nam bao gồm ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN), ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, hợp tác xã tín dụng, công ty cho thuê tài chính và công ty tài chính.
Bốn NHTMNN thống lĩnh ngành ngân hàng trong nước là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
(Vietinbank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank). Các NHTMNN hiện tại
chiếm khoảng 70% tổng tài sản của hệ thống ngân hàng; tuy nhiên sự thống trị của các ngân hàng này đang có xu hướng giảm đáng kể.
Giai đoạn hai của quá trình tái cơ cấu ngân hàng (2016 - 2020) sau giai đoạn đầu kết thúc vào năm 2015 (2011 - 2015). Việc sáp nhập một số ngân hàng và mua lại các ngân hàng kém hiệu quả, ngân hàng không có khả năng tự tái cơ cấu do Ngân hàng Nhà nước thực hiện đã mang lại nhiều thành tựu như cải thiện hiệu quả hoạt động của các ngân hàng và giảm tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống xuống 2,7%.
Trong những thập kỷ qua, các ngân hàng nước ngoài đã mở rộng sự hiện diện của mình tại Việt Nam. Có khoảng 51 chi nhánh ngân hàng nước ngoài; hai ngân hàng liên doanh và sáu ngân hàng 100% vốn nước ngoài tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2016.
Luật hiện hành quy định rằng tổng số cổ phần nước ngoài, tại các ngân hàng Việt Nam trong nước, không được vượt quá 30%. Trong giới hạn này, tỷ lệ sở hữu cổ phần tối đa được phép đối với một ngân hàng nước ngoài với tư cách là đối tác chiến lược là 20%, trong khi nhà đầu tư không phải chiến lược có thể sở hữu 15%. Các nhà đầu tư cá nhân chỉ được nắm giữ không quá 5% cổ phần.
Trong khi ngành ngân hàng phát triển nhanh chóng, Việt Nam vẫn là một xã hội chủ yếu dựa vào tiền mặt. Điều này được chứng minh qua thực tế là chỉ có khoảng 20% dân số Việt Nam trên 90 triệu tài khoản ngân hàng có tài khoản ngân hàng vào cuối năm 2015.
Nguồn RSM Việt Nam
(Tìm kiếm AGBT)

Bình luận